Thông Tin

Thai đoạn kẻ

BS. BÙI QUANG TRUNG – Khoa Phụ Sản BV Mỹ Đức. 

Thai đoạn kẽ là thai ngoài tử cung ở đoạn kẽ ống dẫn trứng. Đoạn kẽ ống dẫn trứng tính từ lỗ trong của ống dẫn trứng chạy trong lớp cơ tử cung đến điểm mà ống dẫn trứng bắt đầu lộ ra khỏi tử cung. Đoạn kẽ ống dẫn trứng có đường kính 0,7 mm dài khoảng 10-20 mm, hướng ra ngoài và lên trên từ khoang nội mạc tử cung.

Thai đoạn kẽ chiếm tỷ lệ khoảng 2-4% tổng số thai ngoài tử cung (TNTC) hay vào khoảng 1 trong số 2500-5000 trẻ sinh sống. Trước năm 1893, báo cáo về thai đoạn kẽ chỉ có được nhờ khám nghiệm tử thi. Hiện nay, nhờ việc có thể chẩn đoán được sớm và đã có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc xử trí thai đoạn kẽ nên đã giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ vào khoảng 2-2,5%, tức là cứ 50 ca thai đoạn kẽ thì có 1 ca tử vong, nhưng vẫn còn cao hơn 7 lần so với TNTC nói chung [3, 4, 5, 6].

Nhìn chung, các yếu tố nguy cơ của thai đoạn kẽ cũng tương tự như với TNTC ở các vị trí khác. Trong một nghiên cứu báo cáo trên 32 trường hợp thai đoạn kẽ, Tulandi và cộng sự công bố những yếu tố nguy cơ cao bao gồm: tiền sử TNTC (thấy trong 40,6% trường hợp), cắt vòi trứng cùng bên hay đối bên (37,5%), mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm (34,4%) và tiền sử có bệnh lây truyền qua đường tình dục (25%), kích thích rụng trứng (3,1%) [7]. Trong một nghiên cứu khác trên 27 ca thai đoạn kẽ, cho thấy 54% trường hợp có tiền sử cắt hay thắt vòi trứng, 54% có tiền sử TNTC, 29,7% là mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm, 12,5% có tiền sử viêm nhiễm vùng chậu [6, 8]. Tuy nhiên, trong hầu hết các ca thai đoạn kẽ có thể không tìm được một yếu tố nguy cơ rõ ràng [9].

Thuật ngữ “thai đoạn kẽ” và “thai ở sừng” tử cung (cornual pregnancy) trước đây thường được sử dụng với ý nghĩa giống nhau và đều để chỉ túi thai đóng ở đoạn kẽ của ODT [3, 10, 11…]. Hiện nay, xu hướng phân định ra hai thuật ngữ này là khác nhau, dùng để chỉ hai dạng thai khác nhau, trong đó, thai ở sừng là thai trong tử cung [6].

Ngoài ra, thai đoạn kẽ thường nhầm lẫn trong chẩn đoán với thai ở góc tử cung (angular pregnancy) [6].Theo định nghĩa của TNTC là thai đóng ở ngoài khoang NMTC [1, 4, 12] nên dù vị trí của cả 3 đều ở gần nơi tiếp giáp giữa vòi trứng và buồng tử cung, tuy nhiên hai dạng sau là những thai trong tử cung vì nằm trong khoang NMTC [13, 14]. Sự phân biệt chính xác ba dạng này rất quan trọng về phương diện lâm sàng bởi vì thái độ trong việc tiếp cận, quản lý và kết cục của mỗi dạng là khác nhau [6].

Bài đăng trên website Hội nội tiết sinh sản, ngày 16.10.2013. Bạn hãy nhấp chuột vào ĐÂY để xem tiếp nội dung bài viết.

BVMĐ